Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

Húy của vua Gia Long là Anh hay Ánh? Võ Hương-An

Tiểu dẫn: Có lẽ bài viết này của tác giả VÕ GƯƠNG AN đã chấm dứt cuộc tranh cãi về tên húy của Ngài Thế tổ Cao hoàng đế Gia Long. Mong rằng các tác giả của Nguyễn Phúc tộc thế phả sẽ đính chính sơ sót nhỏ này.


Hầu như người Việt Nam nào có bước chân tới trường, qua ngưỡng cửa trung học (cấp 2)  cũng ít nhiều biết được tên thật của vua Gia Long (1802-1819) , người khai sáng triều Nguyễn, là Ánh – Nguyễn Phúc Ánh. Thế nhưng Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả (sẽ gọi tắt là Thế phả) -- bộ tộc phả mới nhất của họ Nguyễn Phúc – lại ghi húy của vua Gia Long là Anh.

Sách viết, “Thế Tổ Cao Hoàng Đế húy Nguyễn Phúc Anh ” (tr.215) và giải thích ở chú thích (2) rằng, “Đức Thế Tổ [Gia Long] lúc nhỏ có tên Chủng    sau đức Hưng Tổ [Nguyễn Phúc Côn] chọn một chữ trong bộ  Nhật để đặt tên cho ngài, gồm bên trái là chữ   Nhật bên phải là chữ    Anh (theo Sử Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu), bản dịch Đại Nam Thực Lục Chính Biên của Viện Sử Học Hà Nội thì chép bên trái chữ Nhật   bên phải chữ Ương   .Nguyên hai chữ trên đều có cùng nghĩa, cùng âm.Theo phiên thiết ở Khang Hy Tự điển  đọc là ánh nhưng âm Anh nên ngày trước đọc là Anh. Vì thế trong dòng họ đều kiêng và đọc trại ra chữ Anh thành Yên, anh em thì đọc thành yên em [VHA nhấn mạnh].” (tr.215)


Chúng tôi  không nghĩ như thế và vẫn tin rằng húy của vua Gia Long là Ánh như xưa nay mọi người đều biết. Sao lại dám nói như thế? Xin dẫn chứng bằng 4 sự kiện sau:

1. Mùa Thu năm đinh dậu (1777),  Định vương Nguyễn Phúc Thuần và cháu ruột là Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương đều bị Tây Sơn sát hại. Ngay mùa đông năm đó, truyền nhân  uy tín nhất của chúa Nguyễn còn sống sót lúc bấy giờ là Nguyễn Phúc Ánh, cháu gọi Định Vương bằng chú ruột,  khởi binh ở Long Xuyên, được các tướng tôn làm Đại Nguyên soái, quyền coi việc nước, cầm đầu cuộc trung hưng cơ nghiệp họ Nguyễn. Năm sau, 1778, ông lên ngôi vương, tục gọi Nguyễn Vương và sau 25 năm chiến đấu gian khổ, đã thống nhất đất nước năm 1802, lập ra triều Nguyễn. Vua Gia Long đã khởi nghiệp từ miền đất phương Nam. Theo truyền thống văn hóa Việt, để bày tỏ sự kính trọng và thương mến người chủ mới của đất nước, dân miền Nam đã kiêng tên Nguyễn Phúc Ánh nên họ gọi ánh sáng thành yến sáng từ đó.

2.Cho tới khi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Tây phương, thậm chí, cho đến tiền bán thế kỷ XX, việc kiêng húy là một tập tục căn bản và quan trọng của người Việt Nam. Ở thôn quê,làm dâu làm rể mà không biết kiêng những tên quan trọng bên vợ bên chồng thì có khi mất vợ mất chồng hay ít ra cũng phải nghe những lời trách cứ nặng nề. Đối với dân thường, để bày tỏ lòng tôn kính với người chết, người ta không gọi tên thật mà đặt tên mới, gọi là tên hèm (tên cúng cơm), tên thụy để khấn vái lúc cúng tế. Đối với người sống cũng thế, người ta ít khi gọi tên thật, chỉ gọi theo thứ bậc trong gia đình (Cả, Hai, Ba, Tư…); đặc biệt, với người có địa vị, người ta chỉ gọi bằng chức tước (ông Tham, cụ Thượng, ông Ấm Năm…). Dân mà còn thế huống gì với vua chúa.  Dưới thời các chúa Nguyễn, việc kiêng húy chưa thấy nói đến, có lẽ vì còn ở dưới cái bóng của Nhà Lê nên còn e dè. Khi vua Gia Long  lập ra triều Nguyễn năm 1802 thì qua năm sau đã ra lệnh cho Bộ Lễ phổ biến các chữ húy để quan dân đều biết mà tránh, “Phàm tên người tên đất có giống chữ thì đổi đi, hành văn thì tùy theo ý nghĩa mà thay chữ khác.”(Thực lục I, tr.551). Từ triều Gia Long (1802-1819) cho đến triều Thành Thái (1889-1907), các vua đã ban hành cả chục chỉ dụ về việc kiêng húy. Làm quan mà phạm húy thì bị giáng chức, mất chức. Đi thi mà phạm húy thì coi như “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao” mà còn bị hình phạt roi vọt nữa.

Năm Tự Đức thứ 3 (1850), theo đề nghị của đình thần, vua Tự Đức ban hành lệnh phạt phạm húy làm 3 bậc: “…phàm làm văn  gặp đến chữ tên húy, lệ phải đổi dùng chữ khác, mà có người còn nhầm phạm phải đều phạt đánh 100 gậy, trong đó mà là cử nhân tú tài thì cách bỏ danh tịch đi. Còn các chữ tên húy lệ phải thêm dấu bộ xuyên và viết bớt nét đi và những chữ cùng âm có chữ húy ở bên cạnh, lệ phải đổi dùng chữ khác, mà có người nhầm cứ viết thẳng, thì phạt đánh 90 gậy, trong đó là cử nhân tú tài thì miễn không cho phải cách. Đến như những chữ lệ phải viết bớt nét hoặc dấu, và những chữ có chữ húy ở bên cạnh mà cùng âm, lệ phải đổi, tránh mà có người nhầm phạm đến, đều giảm cho một bậc, phạt đánh 80 gậy, trong đó, nếu là cử nhân tú tài , cũng đều miễn cho khỏi cách.” (Hội điển IVB, tr.340)

            Từ đời Thiệu Trị (1841-1847) trở đi, một vua Nhà Nguyễn có 5 tên:

            -danh tự: là tên khi cha mẹ sinh ra. Ví dụ vua Tự Đức có tên là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm.
            -ngự danh: là tên khi lên làm vua, lấy theo thứ tự trong Thánh chế mạng danh kim sách, làm ra từ đời Minh Mạng. Ngự danh của vua Tự Đức là Thì.
            -Khi lên làm vua thỉ đặt niên hiệu. Ví dụ: Tự Đức.
            -Sau khi băng hà thì triều đình đặt thụy hiệu (tên thụy) để  khấn vái lúc cúng tế. Thụy hiệu của vua Tự Đức là Anh Hoàng Đế.
            -Cùng với việc đặt tên thụy, triều đình cũng đặt miếu hiệu cho vua băng hà để thờ trong miếu và gọi trong sử.  Miếu hiệu của vua Tự Đức là Dực Tông

Danh tự và ngự danh là trọng húy, là quốc húy, cả nước phài kiêng phải tránh. Vì vậy từ sau năm 1848, là năm vua Tự Đức lên nối ngôi, dân Huế gọi hoa hồng là bông hường, màu hồng là màu hường,cả nước phải nói trách nhiệm thay cho trách nhậm, thời gian thay cho thì gian.Vì vậy, các sử thần Nhà Nguyễn khi chép sử, nói đến húy của các vua đã không dám viết ra chữ thật mà phải viết theo lối chiết tự, nghĩa là tách chữ ra để nói, ai muốn biết là chữ gì thì tự ghép lại.  Vua Gia Long có 3 tên, Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu  đã viết như sau:

                        Tên húy Ngài là:

1.Bên tả chữ Nhật, bên hữu chữ Viện [là chữ Noãn 暖]
2.Bên tả chữ Nhật, bên hữu chữ Anh [là chữ Ánh , có thể viết bằng hai cách: 暎] [VHA nhấn mạnh]
3.Bên tả chữ Thái, bên hữu chữ Trọng [là chữ Chủng ]

Nếu Anh là húy của vua Gia Long, Quốc Sử Quán sẽ không dám viết trắng ra như thế.

3. Ai đã vào thăm Đại Nội, Huế đều biết  Cửu đỉnh. Đó là 9 cái đỉnh đồng lớn đúc vào năm 1836,  đời vua Minh Mạng (1820-1840), hiện đặt trước sân  Thế miếu trong Đại Nội, trước khi bước lên Hiển Lâm Các.  Chín đỉnh này là: Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, và Huyền đỉnh.  

Mỗi đỉnh tượng trưng cho một triều đại.  Chỉ những vua băng hà lúc tại vị mới được triều đình thờ trong Thế miếu và được hưởng một đỉnh. Tên của đỉnh cũng là tên thụy (thụy hiệu) của vua đó

-Cao đỉnh là đỉnh dành cho triều Gia Long (1802-1819), vua có thụy hiệu là Cao Hoàng đế và miếu hiệu là Thế tổ. 
-Nhân đỉnh là đỉnh dành cho triều Minh Mạng (1820-1840), vua có thụy hiệu là Nhân Hoàng đế, miếu hiệu là Thánh tổ.  Tương tự, ta có :
-Chương đỉnh dành cho Hiến tổ Chương Hoàng đế (Thiệu Trị, 1841-1847) ;
-Anh đỉnh dành cho Dực tông Anh Hoàng đế (Tự Đức, 1848-1883) ;
-Nghị đỉnh dành cho Giản tông Nghị Hoàng đế (Kiến Phúc, 1883-1884) ;
-Thuần đỉnh dành cho Cảnh tông Thuần Hoàng đế (Đồng Khánh, 1885-1889) ;
-Tuyên đỉnh dành cho Hoằng tông Tuyên Hoàng đế (Khải Định, 1916-1925).
-Hai đỉnh còn lại là Dụ đỉnh và Huyền đỉnh không dành cho ai cả vì triều đại đã chấm dứt vào tháng 8 năm 1945.

            Khi ta đã biết việc kiêng húy được vương triều tuân thủ nghiêm túc như thế nào, thì việc vua Minh Mạng đặt tên cho đỉnh thứ 4 là Anh đỉnh và triều đình tôn thụy hiệu vua Tự Đức là Anh Hoàng Đế đã chứng tỏ rằng Anh không phải là húy của vua Gia Long, bởi không ai dám cả gan làm môt việc như thế.
           
4.Nói rằng dòng họ vì kiêng húy Anh của vua Gia Long nên mới đọc trại anh em thành yên em là không đúng. 

Ai đã có dịp tiếp xúc với mấy Mệ ở Huế (ngưởi Hoàng tộc), nhất là dưới thời quân chủ trị vì, trước tháng 8 năm 1945, đều biết các mệ tránh chữ anh và nói trại thành yên, như Thế phả đã ghi nhận. Mấy ông Hoàng gọi anh mình là đức yên và trong gia đình chữ yên hoàn toàn thay cho anh khi nói tới. Thậm chí, người Hoàng tộc, có khi  cũng  gọi đức yên đối với người ngoài Hoàng tộc mà họ yêu mến, coi như đàn anh, một cách gọi nửa đùa nửa thật, rặt Huế, biểu lộ một tình cảm vửa thân mật vừa kính trọng.

 Cách gọi anh em thành yên em này chỉ có từ sau năm 1883, sau khi triều đình tôn miếu hiệu và thụy hiệu cho vua Tự Đức là  Dực Tông Anh Hoàng Đế nghĩa là kiêng húy Anh của vua Tự Đức chứ không dính gì đến húy của vua Gia Long cả.  Do lệ kiêng húy, từ trọng húy đến khinh húy, mà việc băng hà của  Dực Tông Anh Hoàng đế (Tự Đức)  năm 1883 đã dẫn đến vài thay đổi trong bài Phiên hệ thi dành cho dòng Hoàng tử Cảnh tức Anh Duệ Hoàng Thái Tử (Phiên hệ thi là bài thơ 4 câu 20 chữ do vua Minh Mạng đặt ra năm 1823, ban cho mỗi dòng anh em, dùng làm chữ lót theo thứ tự cho các đời để biết rõ thế thứ trên dưới)
Trên đây là bài thơ nguyên thủy. Sau năm 1883,  vì kiêng húy nên chữ Anh (câu 1)  đổi làm Tăng .  Tương tự, chữ Khiêm trong câu cuối đổi thành Khôn vì kiêng  tên Khiêm lăng là lăng của vua Tự Đức đồng thời cũng là danh hiệu Khiêm Hoàng hậu của bà Trung phi Võ Thị Duyên, vợ vua Tự Đức, do vua Hiệp Hòa tấn tôn năm 1884, theo di chiếu.
 
Bởi các lẽ trên, tôi vẫn tin rằng húy của vua Gia Long là Nguyễn Phúc ÁNH.

VÕ HƯƠNG-AN




--------------------
Tài liệu tham khảo:
-Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc,Nguyễn Phúc Tộc Thế phả ,NXB Thuận Hóa, Huế, 1995.
-Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu, ấn bản điện tử PDF.
-Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục , tập Một, bản dịch của Nguyễn Ngọc Tĩnh, Viện Sử Học, Hà Nội, NXB Giáo Dục, 2002.
-Võ Hương-An, Từ điển Nhà Nguyễn, sắp xuất bản.

39 nhận xét:

  1. Nhận xét này đã bị tác giả xóa.

    Trả lờiXóa
  2. Đây là một bài giải thích rất chính xác về twn của Thế tổ Cao hoàng đế mà mấy lâu nay đã gây nên tranh cãi. Thiết nghĩ đólà một việc làm có ý nghĩa nên mình SƯU TẦM và gởi đến các bạn.

    Trả lờiXóa
  3. Nhà văn hóa Võ Hương An có những bài viết có giá trị cao về sử liệu và văn hóa. Đây là những bài viết để các nhà viết sử, nhà văn và độc giả cần xem để có tư liệu chính xác khi viết bài của mình

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. VHA là thầy dạy mình lớp đệ tứ. Mình liên lạc với ông thường xuyên và rất mê những bài ông viết.

      Xóa
  4. THÌN CHƯA RA NGÕ
    TỴ GÕ CỬA VÀO
    NĂM MỚI MONG SAO
    NHÀ NHÀ NO ĐỦ
    MAI VÀNG TRƯỚC NGÕ
    CUNG CHÚC TÂN XUÂN (~_~)

    Trả lờiXóa
  5. CẢM ƠN ANH ĐÃ CHO ĐỌC MỘT LƯỢNG THÔNG TIN RẤT CHUẨN MỰC!
    TÔI CŨNG ĐÃ NGHIỀN NGẪM VỀ GIA LONG VÀ CÁC TRIỀU VUA NHÀ NGUYỄN NHIỀU NĂM ANH Ạ ! ĐÃ ĐẾN TẬN NƠI VÀ KHỎA SÁT THẬT CỤ THỂ CÁC VĂN TỰ CÒN LƯU LẠI NÊN CŨNG HAONF TOÀN ĐỒNG Ý Ý KIẾN TRÊN CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU VÕ HƯƠNG AN !

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Rất vui khi biết bạn nghiên ứu sâu về giòng họ mình.

      Xóa
  6. Một vựa lúa cho dân tộc Việt từ Người và hậu thế đó!

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Nhận xét này đã bị tác giả xóa.

      Xóa
    2. Cả vựa lúa miền Nam mà cứ đè ra chê hoài. Ngán quá!

      Xóa
  7. Xưa nay mình vẫn học là Nguyễn Phúc Ánh mà! Tên Nguyễn Phúc Anh có từ đâu vậy?

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Mấy ông nghiên cứu sử của họ tui đó. Gây ra tranh cãi tùm lum.

      Xóa
  8. Yêu mãi yêu hoài chưa hết yêu
    Cuộc đời như mảnh đất phì nhiêu
    Gieo bao nhiêu hạt thêm xanh tốt
    Hạt mọc xong rồi hạt lại gieo

    Chúc anh vĩnh Ba mùa va lung tung tràn ngập yêu thương, đong đầy hạnh phúc nhé ! (~_~)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Gieo cho đúng chỗ nghen. Gieo bậy là mệt lắm đó.

      Xóa
  9. Theo em biết thì có một vị tên Nguyễn Phúc Anh nhưng ở đời trước, em không nhớ rõ lắm, đại khái Nguyễn Phúc Anh là em ruột của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, trấn thủ Quảng Nam khoảng 1630-1635. Còn Nguyễn Phúc Ánh mới là tên húy của vua Gia Long.
    Chúc anh cùng gia đình mùa xuân an lạc!

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Đúng đó. Nhưng mấy ông nghiên cứu của Nguyễn Phước tộc lại không chịu cái tên ÁNH mới là lạ.

      Xóa
  10. Kính chúc anh cùng gia quyến một mùa xuân như ý.

    Trả lờiXóa
  11. Vô nhà Mệ VB khi mô cũng học được cái chi đó về sử. Cám ơn Mệ nhìu.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Mình hay tò mò mà. Thấy lạ lạ là chọc mũi vô tìm hiểu.

      Xóa
  12. Tôi là học sinh Quốc Học Huế trước năm 1975 , rất thích môn sử mà tôi chưa bao giờ biết vua GIA LONG có cái tên NGUYỄN PHÚC ANH . Chúc anh năm 65 t an lành

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Mình học là theo sách vở, nhưng nghiên cứu để đính chính mà KHÔNG chính xác thì gây ra hoang mang, vô bổ cho lịch sử.

      Xóa
  13. Ngày xưa HD học tên húy vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh anh ạ
    Những bài viết của anh rất bổ ích, cảm ơn anh nhiều nhé
    Chúc anh xuân mới an lành và hạnh phúc!

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cụ Trần Trọng Kim là cử nhân Hán học nên cụ khó mà lầm lẫn. Ban nghiên cứu Nguyễn Phước tộc nên đính chính sai sót này.

      Xóa
  14. Ngày trước EMT được học tên húy của vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh anh ạ .
    Chúc anh tuần mới luôn vui và công việc tốt nhé !

    Trả lờiXóa
  15. Em đọc bài và có thêm kiến thức về sử học.
    Kính chúc anh Vĩnh Ba năm mới an khang thịnh vượng , vạn sự như ý.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Tiếc thay, vị minh quân này chưa được đặt tên đường ở các thành phố lớn và thủ đô.

      Xóa
  16. Chào anh. Chúc anh một mùa xuân vui khỏe, hạnh phúc, cát tường, an khang!

    Trả lờiXóa
  17. Em đọc -cảm nhận và suy ngẫm thôi -hổng dám bình -
    CHÚC THẦY AN LẠC -MẠNH KHOẺ -

    Trả lờiXóa
  18. Chúc tết rồi tết cũng qua
    Chúc sau tết trái nở hoa yên bình
    Vui khỏe với Huế thương nhé anh ! (~_~)

    Trả lờiXóa
  19. Tác giả đã lập luận và chứng minh quá rõ ràng!

    Trả lờiXóa